Ý nghĩa của kinh thánh và giáo lý Thiên chúa giáo

ý nghĩa của kinh thánh

Khi nghiên cứu kĩ một chút, chúng ta sẽ thấy rằng nội dung của giáo lý thiên chúa giáo được giảng dạy và phổ biến có những điểm khác biệt với ý nghĩa của kinh thánh nguyên thủy. Khi xem xét sự khác nhau này chúng ta cũng sẽ nhận ra đây chính là cốt lõi cho sự khác nhau của giáo lý với chủ trương của các tôn giáo khác như Bà la môn, Phật giáo, Khổng giáo, Cao Đài,….. Nguồn gốc gây ra sự tranh cãi trong dân chúng bấy lâu nay.

Muốn nhận định về vấn đề này cho chính xác, chúng ta cần phân biệt hai nội dung:

  • Nội dung giáo lý được truyền bá trong quần chúng. Là nội dung được biên tập, làm cho phù hợp để đưa đến cho con dân và truyền bá.
  • Nội dung kinh thánh của thánh hiền. Là lời giảng nguyên thủy của Giêsu và cái hiểu của các thánh hiền.

Nội dung chính

Nội dung cốt lõi của giáo lý Thiên Chúa giáo

  • Theo giáo lý Thiên Chúa Giáo thì Thiên Chúa toàn năng sinh ra vạn hữu. Thiên Chúa có bản tính của Thượng Đế, vạn vật có bản tính của vạn vật. Thiên Chúa và tạo vật hết sức là xa cách nhau. Ngoài ra, giáo lý còn chủ trương: chỉ có ba ngôi Thiên Chúa là đồng nhất thể. Chỉ có Chúa Giêsu giáng trần là có tính trời và tính người. Còn nhân loại, bất kỳ ai, cũng chỉ có tính người mà thôi. Vì thế mà ai ai cũng bất toàn, ngoại trừ Chúa Giêsu. Chính vì thế, mà khi nói con người có thể kết hợp được với Thiên Chúa thì chỉ có ý nói kết hợp bằng tình yêu, bằng ơn thánh sủng, chứ không phải là trở nên cùng một bản thể với Thiên Chúa.
  • Vạn hữu dị thể, dị dạng, và hoàn toàn khác nhau từ căn cốt.
  • Thiên Chúa siêu việt và tách ra khỏi vạn hữu.
  • Mạc khải là tin theo giáo hội rằng Thiên Chúa là đầu và cùng sau hết mọi sự.
  • Tìm Trời, tìm Đạo phải tìm trong nhà thờ, nhà thánh và qua các phép Bí Tích.
  • Chung cuộc là phán xét, phân loại kẻ gian, người tốt. Từ đó phân định sự sống tiếp diễn sẽ ở địa ngục, luyện ngục hoặc thiên dàng.
  • Cuộc sống trần gian của con người chỉ gói gọn trong một kiếp sống. Một người sống cuộc đời duy nhất của mình thế nào sẽ quyết định vận mệnh đời đời của người ấy.

via GIPHY

Ý nghĩa của kinh thánh chỉ ra rằng

Thứ nhất: Chủ trương của kinh thánh – ý nghĩa lời giảng của ngài Giêsu: Thiên Chúa không hề tách rời chúng sinh, Thiên Chúa nằm ngay trong nội tâm, Thiên Chúa hiện diện trong lòng vạn hữu:

  • Trước hết, Thánh Kinh gọi Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Nhưng cũng gọi những người thánh thiện là Con Thiên Chúa. Ngài dám coi tha nhân là Thượng Đế.
  • Khẩu hiệu của Ngài là mến Chúa, yêu người. Thương giúp kẻ nghèo, kẻ tật bệnh là thương giúp ngài , bức bách giáo hữu là bức bách Ngài. 
    Mat 22:37-40: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống. Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước. Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc. Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom. Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm. Bấy giờ những người công chính sẽ thưa rằng: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống. Có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà cho mặc? Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến thăm đâu?” Ðể đáp lại, Ðức Vua sẽ bảo họ rằng: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” 

ý nghĩa câu kinh thánh

  • Chúa Giêsu lập kinh Lạy Cha để cho mọi người biết chúng ta và Ngài đều ở trên nước Trời và hiệp nhất với Thiên Chúa.
  • Mọi người đều có thể làm được phép lạ, có khi còn hơn Ngài, nếu họ có đức tin.
    Luca 17:6. Các tông đồ thưa với Chúa Giêsu rằng: “Thưa thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con”. Chúa đáp: “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: “Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc, nó cũng sẽ vâng lời anh em.
  • Con người chẳng bao giờ xa rời được Thiên Chúa: Thiên Chúa là gốc nho, con người là cành nho. Cành có bao giờ rời được gốc? (Mat 15:5)

=> Ý nghĩa của kinh thánh luôn nhắn nhủ con người rằng:

  • Con người có thần Trời trong tâm hồn, nước Trời phải ở đáy lòng. Và chân đạo phải là sự chuyển hóa tâm hồn, phải là sự ban phát Công Bằng, Chính Trực. Chứ không phải là sự mấp máy môi miệng (Isaiah 29:13; Mat 15:8)
  • Ước nguyện của Chúa Giêsu là ước gì Trời Người hợp nhất. (John 17:21-25)
  • Định mệnh tối hậu của nhân loại là: Con người toàn thiện có thể ngồi tòa cùng Thiên Chúa. Thiên Chúa không hề tách rời chúng sinh, Thiên Chúa nằm ngay trong nội tâm, Thiên Chúa hiện diện trong lòng vạn hữu.
  • Con người không hề hèn mọn và yếu đuối. Con người là hình ảnh của Thiên Chúa. Thiên Chúa nằm ngay trong mỗi người. Nên con người có quyền năng và khả năng tự chuyển hóa cuộc đời của mình.

Thứ 2: Lúc chung cuộc vạn vật sẽ siêu thăng, trở về với Thiên Chúa. Như vậy, chung cuộc là hòa hợp.

Xem xét dụ ngôn sau:

Đức Giêsu trình bày cho dân chúng nghe một dụ ngôn. Rằng “Nước Trời ví như chuyện người kia gieo giống tốt trong ruộng mình. Khi mọi người đang ngủ, thì kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa, rồi đi mất. Khi lúa mọc lên và trổ bông, thì cỏ lùng cũng xuất hiện. Đầy tớ mới đến thưa chủ nhà rằng: “Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao? Thế thì cỏ lùng ở đâu mà ra vậy?” Ông đáp: “Kẻ thù đã làm đó!”

Đầy tớ nói: “Vậy ông có muốn chúng tôi ra đi gom lại không?” Ông đáp: “Đừng, sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa. Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi. Còn lúa, thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi.”

Bấy giờ, Đức Giêsu bỏ đám đông mà về nhà. Các môn đệ lại gần Người và thưa rằng: “Xin Thầy giải nghĩa dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng cho chúng con nghe. Người đáp: “Kẻ gieo hạt giống tốt là Con Người. Ruộng là thế gian. Hạt giống tốt, đó là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái Ác Thần. Kẻ thù đã gieo cỏ lùng là ma quỷ. Mùa gặt là ngày tận thế. Thợ gặt là các thiên thần.

Vậy, như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào, thì đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy. Con Người sẽ sai các thiên thần của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người. Rồi quăng chúng vào lò lửa; ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng. Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời, trong Nước của Cha họ.

Dưới cái hiểu thô sơ từ dụ ngôn này, mà người ta lan truyền có một sự phán xét sau cái chết. Những người có đạo tin rằng cho đến chung cuộc, mọi việc mới được phân minh, phân chia con người vào địa ngục hoặc thiên đàng.

Nhưng hãy xem xét kỹ một chút, ngài nói hạt giống tốt đó là con cái nước trời (toàn thể dân chúa). Cỏ lùng là con cái Ác Thần. Không có nghĩa là những người con của Chúa khi tội lỗi thì lại thành con cái của ma quỷ.

Cỏ lùng xen lẫn lúa cũng có thể hiểu là cái tâm thức vô minh của con người. Người ta hay goi là bản ngã.

Bên trong mỗi người luôn tồn tại song song cả tính thiện lẫn tính ác. Cỏ lùng là những tâm tính bên trong khởi phát lên sự tham lam, đố kị, tranh đấu, chiếm đoạt, mưu mô, oán trách, ca thán, đổ lỗi, tự dằn vặt,… Khiến con người thiếu kiểm soát. Mà làm ra những điều tổn hại đến tha nhân.

Các tâm tính này ngày sau rốt rồi sẽ bị thiêu đốt đi. Con người sớm muộn rồi sẽ thấy được cái xấu xa đó mà sám hối, thay đổi. Để hiển lộ ra bản chất yêu thương, thiện lành. Chính là tính Chúa bên trong mỗi người.

Sự phán xét, phân loại là điều diễn ra bên trong mỗi người chứ không phải là phân loại giữa những con người với nhau.

Thiên Chúa là tình yêu, là một đấng nhân từ, đầy tình yêu thương và tha thứ, là cha của con người. Không có người cha nào tạo ra một nơi đầy đáng sợ với các cách thức hành hình để trừng phạt đứa con mình yêu dấu. Huống hồ là một Thiên Chúa đầy từ bi và tha thứ. Ngài đã đặt vào sự sống những quy luật để tự nó vận hành một cách công bằng. (Đọc thêm về luật sáng tạo – tự do ý chí). Để con người thực sự trưởng thành cách tự nhiên chứ không phải thông qua trừng phạt.

ý nghĩa của thánh kinh

Định nghĩa về thiên đàng, địa ngục chưa từng được nói rõ trong Kinh thánh. Đó chỉ là những khái niệm do con người tạo ra. Đời sống ở thế giới hữu hình này, hẳn ai cũng từng nếm qua rất nhiều trải nghiệm: vui buồn, khổ cực, hạnh phúc,…Sống với tâm an nhiên, tự do thì cuộc sống đã là thiên đàng. Sống với tâm bất chính, mưu mô, tự đọa đày mình trong dày vò, than trách, hoán hờn thì cuộc đời này chẳng khác gì địa ngục.

Thiên đàng và địa ngục chỉ là những trạng thái của ý thức. Sau khi chết đi, ý thức linh hồn ấy vẫn chìm sâu trong tiêu cực hay trở nên tốt đẹp, tiến hóa. Thì sẽ tiếp tục sự sống linh hồn với trạng thái tương ứng là đau đớn như địa ngục hay hạnh phúc, hoan lạc như thiên đàng.

Nước trời cũng giống như một tổ ấm. Dù cho những đứa trẻ lao mình ra ngoài làm những việc tốt hay thậm chí làm những việc xấu xa. Dù cho đứa con của mình có nghèo khổ hay giàu có. Khi trở về nơi sinh ra thì đấng sinh thành cũng giang tay mà che chở, đón nhận. Huống hồ là người cha sáng tạo đầy yêu thương và nhân từ là Thiên Chúa.

ơn huệ của chúa thông qua nghi lễ
Ảnh sưu tầm

Tại sao lại có sự khác biệt giữa giáo lý và ý nghĩa của kinh thánh

Thứ nhất:

Lời dạy của ngài Giêsu thường không đi vào trực tiếp vấn đề mà thông qua các dụ ngôn. Mục đích của ngài là để chân lý ấy đến được với những người thực sự phù hợp, có thể hiểu và trân trọng giá trị đó. Mỗi mức độ nhận thức khác nhau của từng người sẽ nhận được lí giải phù hợp. (Mc 4,10-12; Lc 8,9-10) Chính vì lẽ đó, dụ ngôn của ngài bị hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Và hội thánh sẽ lí giải chúng theo định hướng mong muốn của những nhà lãnh đạo. Đó là lí do giáo lý và ý nghĩa của kinh thánh có thể sẽ khác nhau.

Hơn thế, các bài giảng qua thời gian truyền lại, chắn chắn có nhiều sự sửa đổi, thất truyền. Làm mất đi giá trị nguyên thủy.

Các dụ ngôn và bài giảng của Chúa Giêsu ẩn chứa những chân lý về Thiên Chúa. Tiết lộ các quy luật vận hành vĩ đại của sự sống. Mà giáo hội thường bỏ qua và không nhìn ra được các ý nghĩa, ý muốn thực sự ấy của chúa Giêsu.

Nhận ra được các ý nghĩa này mới khiến con người được thức tỉnh. Và có tính ứng dụng cao để chuyển hóa cuộc sống và khiến tâm thức chúng ta trở nên thông tuệ, trưởng thành.

Thứ hai:

Bất kể một tổ chức nào cũng muốn định hướng con người theo những niềm tin chung. Đặt ra và thêm thắt các luật lệ, những nỗi sợ hãi để con người không chệch hướng mà làm những điều không đúng đắn. Đó là lí tưởng và mong muốn chung của những người lãnh đạo. Điều này có tác dụng răn đe để đưa con người vào nề nếp.

Nề nếp và niềm tin được xây dựng lâu đời, nên ít có người có chính kiến để vượt ra khỏi giới hạn. Ví dụ: những đứa trẻ từ nhỏ đã được giáo dục để phát triển các môn khoa học tự nhiên. Đứa trẻ sẽ tin rằng mình chỉ được gọi là giỏi khi có điểm cao và đi theo các môn này,….

Những luật lệ và niềm tin về sự trừng phạt cũng vô tình khiến chúng ta cứ sống trong sợ hãi. Nghĩ rằng bản thân mình thấp hèn, yếu đuối và tội lỗi bẩm sinh. Chúng ta cần phải nương tựa vào một vị thần mới có thể chắc chắn cuộc sống tốt đẹp ngày sau rốt.

Vô tình tạo ra nhiều giáo dân, đi đến nhà thờ, nhà thánh không còn là để học được các chân lý sự sống mà chuyển hóa chính mình. Hay kết nối với Thiên Chúa để thấy được cái khiếm khuyết của bản thân mà thay đổi. Người ta đến nhà thờ vì sợ hãi sự trừng phạt. Hay để cầu xin tiền tài, danh vọng. Chăm chỉ thực hiện nhưng với cái tâm hình thức, hoàn thành cho đủ nhiệm vụ. Để bản thân thấy an tâm hơn trước sự giận dữ của Thiên Chúa trong ngày phán xét. Mà chính chúng ta đang thờ lạy Ngài là từ bi và yêu thương.

Sinh ra trong một lối mòn, ai ai xung quanh cũng làm những thứ giống nhau. Có rất nhiều người chưa từng hỏi tại sao mình lại bị đặt vào con đường này? Tại sao mình cần làm những điều này? Những điều này có đúng chưa? Những điều ấy có hợp lí không?

Thậm chí việc nghĩ khác đi, làm khác đi là bạn bị kết án là tội lỗi, bị ma quỷ cám dỗ. Nên đa số con người có niềm tin vào đạo chỉ vì cho giống với người khác. Duy trì đạo vì ít ra sẽ có nơi nương tựa những lúc bế tắc nhất của cuộc sống.

Niềm tin không có trí tuệ, đó chính là sự mê muội. Và niềm tin dựa trên nỗi sợ hãi chưa bao giờ là niềm tin chân thành cả. Việc phân tích nhiều hơn và trở nên có chính kiến sẽ không khiến bạn bỏ đạo, bỏ Chúa. Hơn thế, trí tuệ sẽ giúp bạn có một niềm tin chân thành hơn vào tâm linh, vào Thiên Chúa tình yêu và ánh sáng.

ý nghĩa của kinh thánh công giáo

Tóm lại về ý nghĩa của Kinh thánh

Tư duy, niềm tin của mỗi người đều khác nhau do bởi sự tiếp xúc với môi trường và kiến thức khác nhau. Giáo lý Thiên Chúa giáo vẫn luôn hướng con người đến sự yêu thương. Và làm những việc tốt lành, giúp đỡ tha nhân. Đó là điều hết sức tốt đẹp. Duy chỉ trên khía cạnh giáo lý đã mang đến cho con người những nỗi sợ hãi về sự trừng phạt. Khiến con người tin rằng họ là bản thể yếu đuối, đầy tội lỗi, bất toàn, luôn cần nương tựa ơn trên. Thì đó là một điều không nên có.

Giáo lý Thiên Chúa giáo từ đó còn vô tình trở nên mâu thuẫn với các tôn giáo khác. Tạo nên nhiều sự tranh cãi và đổ vỡ trong cuộc sống, trong hôn nhân mà nó đáng ra có thể giải quyết một cách thấu suốt hơn.

Ý nghĩa của Kinh Thánh nếu nghiên cứu kĩ, ta thấy chân lý của đạo Thiên Chúa vốn không hề xa rời với chân lý của các đạo khác. Vốn cùng chung một chân lý. Chỉ khác nhau ở cách diễn đạt, tên gọi. Đạo này cũng có thể sáng soi cho đạo nọ, và càng học hỏi, càng so sánh, chân lý càng trở nên sáng tỏ. Con đường đạo giáo càng được hoạch định rõ ràng. Gia tăng niềm tin vào thần linh. Và thực sự khiến con người trở nên thiện lành, sáng suốt.

Con người thực sự sống trong nội tâm mạnh mẽ, tự kiểm soát cuộc sống của chính mình. Coi tha nhân, anh em đều là một, từ đó khởi phát tình yêu thương, đồng cảm, thấu hiểu một cách chân thành. Sống chan hòa và hiểu biết lẫn nhau.

Bạn có thể đồng ý hoặc không tán thành với một vài lập luận trên. Mọi thứ đều có tính tương đối và phù hợp với đối tượng khác nhau. Bạn có quyền được chọn lựa. Bất kể thông tin nào khiến cuộc sống của bạn trở nên tốt đẹp hơn, yên vui hơn thì đó là điều bạn có thể sử dụng.

Cảm ơn bạn rất nhiều!

Đọc thêm

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *